Make your own free website on Tripod.com

 

 

ĐỜI NGƯỜI VÀ SỐ MẠNG

 

 

 
DỊCH LƯ VN
XEM CHỈ TAY
PHÉP BẤM ĐỘN
PHƯƠNG THUẬT
PHÉP BÓI BÀI
XEM CHỮ
PHÉP XEM TƯỚNG
PHONG THỦY

   TÀI LIỆU THAM KHẢO

Sorry, no java browser

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

                                 Trang Chủ                                            Gởi Ư Kiến  

THỂ & DỤNG

 

NGŨ HÀNH TƯƠNG SINH, TƯƠNG KHẮC

Tương Sinh

Tương Khắc

Mộc sinh Hỏa (cây đốt thành lửa)

Hỏa sinh Thổ (vật bị đốt trở thành đất)

Thổ sinh Kim (đất chứa các quặng mơ)

Kim sinh Thủy (sắt bị nung chảy thành nước)

Thủy sinh Mộc (nước nuôi dưỡng cây)

Kim khắc Mộc (sắt đẽo cây thành vật dụng)

Mộc khắc Thổ (trồng cây trong đất)

Thổ khắc Thủy (Đắp đê ngăn nước lụt)

Thủy khắc Hỏa (nước dập tắt lử)

Hỏa khắc Kim (nung nóng sắt để nấu thành đao, kiếm, dao, búa)

       Bảng luận ở trên chỉ luận về tổng quát mà thôi. Nhiều thầy bói không nghiên cứu đến nơi, đến chốn đă vội vàng phê phán những cặp vợ chồng, bồ bịch có những mạng ngũ hành tương khắc lẫn nhau và vội cho rằng họ không thể ăn đời ở kiếp với nhau. Nhiều bậc cha mẹ quá vội tin vào những ông bà thầy "nửa vời" này mà làm cho tan ră những đôi uyên ương nồng thắm thật là đáng tiếc lắm thay. Chuyện vợ chồng là chuyện duyên nợ, cho dù có thật sự bị tương khắc th́ cũng là số mệnh. Từ xưa đến nay có mấy ai căi lại được mệnh trời sao?!. Muốn có số tốt th́ cứ làm nhiều chuyện phước đức, tốt đẹp cho mọi người chung quanh đi th́ chắc chắn sẽ gặp được chuyện tốt lành đưa đến. 

Luận ngũ hành sinh khắc th́ nên luận kỹ như sau:

        Như hỏa khắc kim, nhưng "kim trong biển", "kim trong cát", th́ hỏa không dễ dàng khắc được. Có khi kim không sợ hỏa khắc mà trái lại c̣n cần đế hỏa để luyện kim khí thành những vật dụng hữu ích như "kim mũi kiếm" chẳng hạn. Tuy nhiên, "kim trong biển" và "kim trong cát" không sợ hỏa b́nh thường khắc nhưng lại sợ "hỏa thu lôi" v́ hỏa thu lôi có thể đánh xuống tận đáy biển, đánh vào tận tầng đất sâu.

        Kim có thể khắc mộc, nhưng "gỗ trong cột" phần nhiều lại thích có kim chế ngự, đến lúc kim suy không thể khắc mộc vượng. Nói chung, mộc yếu gặp kim vượng th́ bất lợi, nhưng " mộc rừng tốt", "mộc đất bằng" rất khó bị kim khắc. Mộc rất sợ "kim mũi kiếm" v́ "kim mũi kiếm" là kim đă thành vũ khí.

        Mộc có thể khắc thổ, nhưng "thổ trên tường", "thổ nền nhà' rất khó bị mộc khắc. Thổ rất dễ bị "mộc rừng tốt", "mộc đất bằng khắc".

         Thổ có thể khắc thủy, trái lại, nước nhiều bao vây thổ, có thể tưới ruộng, tưới nhuần muôn vật, thổ suy không thể khắc được thủy vượng. Nếu như thủy suy thổ vượng tất phải bị thổ khắc.

        Thủy có thể khắc hỏa, nhưng hỏa nhiều hay hỏa vương lại thích chế ngự thủy. Như "hỏa trên trời", "hỏa thu lôi" chẳng những không sợ thủy khắc, trái lại, trời càng mưa to lại càng lợi hại, c̣n có thể chui xuống đáy biển để khắc thủy nữa.

           Sau khi lập quẻ, ta cần để ư phần nào ở chính quái (bản quái) là thể, phần nào là dụng. Thể hay dụng hoặc ở trên, hoặc ở dưới. Thể ở trên th́ dụng ở dưới và ngược lại. Như thế mỗi thứ là 1 đơn quái.

            Muốn đoán th́ ta để ư: 

  1. Thể là chủ, Dụng là khách, là sự việc sẽ xảy ra là kết qủa của việc chiêm đoán.

  2. Dựa vào ngũ hành sinh khắc mà luận đoán. Quẻ tốt là quẻ cho thấy sự biến dịch đưa tới kết qủa tốt. Quẻ xấu cho thấy kết qủa xấu.

                Quẻ tốt khi hành của thể khắc hành của dụng, hoặc hành của dụng sinh hành của thể. Thí dụ: thể là hỏa, dụng là kim, vậy là thể khắc dụng.

                Quẻ xấu khi hành của thể sinh hành của dụng, hoặc hành của dụng khắc hành của thể.

                Nếu hành của thể và của dụng cùng 1 thứ, đó là tỵ ḥa, cũng tốt. Thí dụ: thể là quẻ Chấn, dụng là quẻ Tốn đều là hành mộc cả.

  1. Ở chính quái có thể dụng như thế nào th́ hộ quái và biến quái  cũng có thể và dụng giống như vậy. Thí du: chính quái có thể là phần thượng quái th́ tại hộ quái và biến quái có thể cũng là phần thượng quái. Cố nhiên hạ quái ở 3 quẻ chính, hộ, và biến là dụng.

Nếu chính quái có thể khắc dụng, hộ quái và biến quái cũng vậy, ta nói quẻ tốt: mới đầu tốt mà kết qủa cũng tốt.

Nếu chính quái tốt, hộ quái xấu, biến quái tốt: quẻ tốt nhưng sự việc trước th́ xấu và kết quả mới được tốt.

Nếu chính quái tốt, hộ quái tốt, biến quái xấu: quẻ không tốt v́ mới đầu tuy được tốt, sau xấu và kết quả không được tốt.

Nếu chính quái tốt, hộ quái xấu, biến quái xấu: quẻ xấu nhưng có chính quái tốt nên dù quẻ xấu cũng vô hại.

Nếu chính quái xấu, hộ quái xấu, biến quái xấu: quẻ xấu lắm.

Nếu chính quái xấu, hộ quái tốt, biến quái xấu: quẻ xấu, dù trước tốt nhưng kết quả cũng xấu.

Nếu chính quái xấu, hộ quái xấu, biến quái tốt: quẻ cũng khá v́ trước tuy xấu nhưng kết quả th́ được tốt.

Nếu chính quái xấu, hộ quái tốt, biến quái tốt: quẻ tuy xấu nhưng sự việc xảy ra tốt và kết quả cũng tốt. Với quẻ này tuy hung hiểm nhưng cũng được yên ổn, và đi tới sự lành.

  1. Sự tốt xấu cũng lệ thuộc vào sự thịnh suy của quái khí. Sự thịnh suy của quái khí là sự phù hợp hay khắc kỵ của quẻ với mùa. Quẻ thuộc hành Kim vào mùa Thu (thuộc Kim) là thịnh, nhưng nếu mùa Hạ th́ bị suy.

          Như thế quẻ tốt mà quái khí thịnh th́ tốt lắm. C̣n như quái khí suy th́ độ tốt bị giảm đi.

           Gặp quẻ xấu; thể bị khắc nhưng quái khí của thể được vượng th́ cũng không bị thiệt hại nhiều, có tai nạn cũng không đến nỗi chết.

            Đó là 1 vài nguyên tắc chính, ta dựa vào đó mà suy luận, nên hư, xấu tốt. Tuy nhiên chỉ có động (tâm) mới toán quẻ, không động không đoán v́ quẻ sẽ không được linh ứng.

 THỂ DỤNG TỔNG QUYẾT

            Thể quái làm chủ. Dụng quái làm sự việc. Hộ quái làm trung gian của sự và thể. Khắc ứng và biến quái là kết quả của sự việc. Quái khí của ứng thể phải thịnh, chớ không được suy.

  Khí thịnh như Xuân:    Chấn, Tốn.

                            Hạ:        Ly

                            Thu:        Càn, Đoài

                            Đông:      Khảm

        4 tháng Th́n, Tuất, Sửu, Mùi:    Khôn, Cấn

  Khí vượng như    Xuân:    Khôn, Cấn

                                  Hạ:        Càn, Đoài

                                  Thu:       Chấn, Tốn

                                  Đông:     Ly

        4 tháng Th́n, Tuất, Sửu, Mùi:    Khảm

DỤNG QUÁI SINH THỂ QUÁI

DỤNG QUÁI KHẮC THỂ QUÁI

Càn sinh thể: Các việc công môn có sự vui mừng, công danh hiển đạt, làm quan có tài hay kiện thưa được thắng. Có lợi về kim báu. Có người ǵa ban tiền của hoặc có qúi nhân, tôn trưởng gia ân hoặc có việc mừng về quan sự.

Càn khắc thể: Có sự lo lắng ở công môn. Có sự lo buồn trong gia trạch. Mất của. Hao tổn về ngũ cốc. Oán giận cùng tôn trưởng. Bị tội với thượng cấp.

 

Khôn sinh thể: Chủ sự vui mừng về ruộng đất: do điền thổ mà có tài, có người cùng làng đem đến cho sự lợi ích hoặc có đàn bà làm lợi cho ḿnh. Hoặc có lợi về hoa quả mùa màng hay có lợi về vải lụa.

Khôn khắc thể: Chủ sự lo lắng về điền thổ; v́ điền thổ mà tổn hại. Bị tiểu nhân làm hại. Bị đàn bà lấn hiếp. Bị hao tài về vải sợi. Bị thất chí v́ lỗ lă về ngũ cốc.

Chấn sinh thể: Chủ lợi về sơn, lâm sản: làm rương răy phát tài. Có sự vui mừng trong sự hoạt động. Có tài về phương Đông. Buôn bán về loài mộc có lợi. Có người mang họ tên thảo mộc làm lợi cho ḿnh.

Chấn khắc thể: Chủ sự sợ hăi, khiếp sợ. Trong ḷng thường nơm nớp chẳng được yên. Trong gia trạch có tai biến. Có người tên họ mang bộ thảo mộc lấn áp. Bị thất thoát về sơn lâm

Tốn sinh thể: Chủ lợi về sơn, lâm sản: Do sơn, lâm sản mà phát tài. Có tài lợi về hướng đông nam. Có người mang tên họ mang bộ thảo mộc làm lợi cho ḿnh. Có lợi về qủa, trà. Có người biếu tặng qủa, trà, rau cỏ. Tóm lại, có lợi về những thứ thuộc loài thảo mộc.

Tốn khắc thể: Chủ sự lo lắng về sơn lâm. Mưu sự về sơn lâm thất bại. Có người tên họ có bộ thảo mộc làm hại. Người ở đông-nam mưu hại. Kỵ giao tranh sinh sự với đàn bà.

Khảm sinh thể: Có sự vui mừng từ phương Bắc tới. Có tài về hướng Bắc. Có người ở gần sông, nước đem lợi tới cho ḿnh. Buôn bán cá muối, rượu có lợi. Văn thơ giao dịch có lợi. Có người cho rượu, cá, muối. Tóm lại, có lợi về những thứ thuộc loài thủy.

Khảm khắc thể: Chủ hiểm họa, bị cướp bóc. Có oán thù với người ở ven bờ nước. Bị tai nạn sau khi rượu chè. Bị hăm hại trong lúc ăn uống. Cùng với người ở phương Bắc gây họa.

Ly sinh thể: Chủ phát tài về phương Nam. Người ở phương Nam đem đến tài, lợi. Có sự mừng về văn thơ. Có lợi về các xưởng đúc, ḷ đúc đồ sắt. Có người mà tên họ mang bộ hỏa làm lợi cho ḿnh. Tóm lại có lợi thuộc về loài kim.

Ly khắc thể: Chủ bị văn thơ quấy rối. Kinh sợ về hỏa hoạn. Có nhiều lo âu từ phương Nam tới. Có người tên họ mang bộ hỏa gây rối loạn cho ḿnh.

Cấn sinh thể: Chủ phát tài về hướng đông bắc. Có người ở hướng đông bắc đem tài lợi tới. Có tài về sơn lâm, điền thổ. Có người mà tên họ mang bộ thổ hay nói giọng trầm đem tài lợi đến. Mọi sự việc đều yên ổn. Mọi việc đều có thủy có chung.

Cấn khắc thể: Mọi việc liên lụy, 100 việc đều trở ngại. Bị hao tổn về sơn lâm. Có người tên họ có bộ thổ gây loạn cho ḿnh. Đề pḥng họa do ở phương Bắc tới. Ưu lo về phần mộ không yên

Đoài sinh thể: Chủ tài lợi về hướng Tây. Có người ở hướng Tây đem tài lợi đến. Có sự vui tươi. Được mời ăn uống. Được lợi về buôn bán vàng ngọc. Có người tên họ mang bộ khẩu làm lợi cho ḿnh. Chủ khách có việc vui mừng. Bè bạn tụ họp mua vui. Người nói giọng cao làm lợi cho ḿnh.

Đoài khắc thể: Bất lợi về hướng Tây. Chủ khẩu thiệt. Nhiều sự rối ren. Có người tên họ có bộ khẩu gây rối loạn cho ḿnh. Bị thương, bị què gẫy. Do ăn uống mà sinh ra ưu sầu.

            Nếu không có quẻ sinh thể hay khắc thể th́ tùy theo bản (chánh) quái mà đoán.


01/04/2005 08:44:31 AM